Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / BÌNH LUẬN BẢN ÁN SƠ THẨM SỐ 04/2021/HS-ST NGÀY 29/01/2021 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH X: XÁC ĐỊNH SỐ TIỀN SỬ DỤNG ĐÁNH BẠC THEO LỜI KHAI HAY SỐ THU THỰC TẾ?

BÌNH LUẬN BẢN ÁN SƠ THẨM SỐ 04/2021/HS-ST NGÀY 29/01/2021 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH X: XÁC ĐỊNH SỐ TIỀN SỬ DỤNG ĐÁNH BẠC THEO LỜI KHAI HAY SỐ THU THỰC TẾ?

TÓM TẮT NỘI DUNG BẢN ÁN

Khoảng 19h ngày 01/02/2020, Nguyễn Vũ L., Nguyễn Văn Ho., Nguyễn Trí N., Võ Đình K., Võ Văn Đ., Nguyễn Văn Thô., Nguyễn Đức H., Nguyễn Văn Hu., Nguyễn Anh T., Nguyễn Thanh H., Nguyễn Thị T., Nguyễn Văn A., Nguyễn Anh V., Nguyễn Trung H., Nguyễn Văn Th., Nguyễn Văn Tr. đến quán cà phê B. do Nguyễn Bá Nhật H. làm chủ để uống cà phê, sau đó rủ nhau đánh bạc. Ban đầu một số người đánh tú lơ khơ để giải trí, sau đó chuyển qua xóc dĩa. Sau khi chơi được khoảng 10 phút, một người đề nghị chuyển vào gian phòng bếp của quán để chơi cho rộng. Lúc này, Nguyễn Bá Nhật H. trải một chiếu nhựa ra giữa gian phòng, bên trên chiếu trải 01 cái chăn, mang chén và dĩa từ vị trí xóc dĩa phía ngoài vào bên trong, đồng thời đưa một cái kéo, một bộ bài tú lơ khơ mục đích là để mọi người cắt lại bốn con vị mới. Khoảng 5 phút sau, Nguyễn Vũ L. cầm chén xóc, mọi người còn lại tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc, L. thu xâu 02 lần, lần thứ nhất thu được 400.000 đồng, lần thứ hai thu được 300.000 đồng và đưa cho Nguyễn Bá Nhật H.

Đến khoảng 22h30 cùng ngày, Phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Quảng Trị bắt quả tang. Công an đã giữ được 10 người, thu giữ số tiền 7.300.000 đồng, bao gồm: Nguyễn Vũ L. 300.000 đồng, Võ Đình K. 600.000 đồng, Nguyễn Văn Th. 500.000 đồng, Nguyễn Văn H. 4.000.000 đồng, Nguyễn Anh T. 1.300.000 đồng và Nguyễn Bá Nhật H. 700.000 (là tiền thu xâu 02 lần).  Trong khoản tiền 7.300.000 đồng này có 4.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn H tự giao nộp và khai nhận là tiền mang đi để đánh bạc và 700.000 đồng là tiền xâu Nguyễn Bá Nhật H. tự giao nộp.

Ngày 02/02/2020, 07 bị can gồm Nguyễn Văn Hu., Nguyễn Thanh H., Nguyễn Thị T., Nguyễn Văn A., Nguyễn Anh V., Nguyễn Trung H., Nguyễn Văn Thi. đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đầu thú. Số tiền các bị can tự nguyện giao nộp khi ra đầu thú là 750.000 đồng, bao gồm: Nguyễn Văn Hu. 200.000 đồng, Nguyễn Văn Thi. 200.000 đồng, Nguyễn Văn A. 150.000 đồng, Nguyễn Thị T. 200.000 đồng.

Tổng số tiền các bị can khai nhận mang đi và sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.480.000 đồng.

Ngày 29/01/2021, Toà án nhân dân X tổ chức xét xử sơ thẩm công khai vụ án trên. Xét vai trò của các bị cáo, số tiền tham gia đánh bạc và quá trình nhân thân, Toà án nhân dân tỉnh X tuyên:

  • Bị cáo Nguyễn Bá Nhật H. phạm tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322 BLHS.
  • Các bị cáo còn lại phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Xác định số tiền dùng để đánh bạc theo hồ sơ vụ án

Theo hồ sơ vụ án, số tiền do các bị cáo khai mang theo để đánh bạc và số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trong người con bạc được tổng hợp theo bảng sau:

STT

Bị cáo

Số tiền do các bị khai mang theo để đánh bạc (đồng)

Số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trong người con bạc (đồng)

1

Nguyễn Vũ L.

650.000

300.000

2

Nguyễn Văn H.

400.000

0

3

Nguyễn Trí N.

550.000

0

4

Võ Đình K.

1.000.000

600.000

5

Võ Văn Đ.

1.000.000

0

6

Nguyễn Văn Tho.

200.000

500.000

7

Nguyễn Đức H.

380.000

0

8

Nguyễn Văn Ho.

4.500.000

4.000.000

9

Nguyễn Anh T.

700.000

1.300.000

10

Nguyễn Văn Tr.

400.000

0

11

Nguyễn Thị T.

200.000

0

12

Nguyễn Thanh H.

300.000

0

13

Nguyễn Văn A.

300.000

0

14

Nguyễn Anh V.

300.000

0

15

Nguyễn Trung H.

300.000

0

16

Nguyễn Văn Thi.

300.000

0

17

Nguyễn Bá Nhật Hoàng

0

700.000

Tổng cộng

11.480.000

7.300.000

Có thể thấy, số tiền đánh bạc theo lời khai của người phạm tội và số tiền thực tế thu được trên chiếu bạc là khác nhau. Cơ quan điều tra đã dựa theo lời khai của người phạm tội, dùng số tiền 11.480.000 đồng làm thang số phạm tội, quy kết tội danh cho các bị cáo.

Số tiền thu trên chiếu bạc và số tiền các bị can giao nộp là 7.300.000 đồng. Cơ quan điều tra không xác định rõ số tiền thu trên chiếu bạc và số tiền các bị can giao nộp là bao nhiêu. Tuy nhiên, theo hồ sơ của vụ án, xác định được số tiền 4.000.000 đồng của bị can Nguyễn Văn Ho. là do bị can tự giao nộp và khai nhận là số tiền mang đi đánh bạc. Như vậy, trong số tiền thu trên chiếu bạc và số tiền các bị can giao nộp vẫn có phần tiền cơ quan điều tra thu dựa trên lời khai của các bị can. Nếu trừ đi số tiền của bị can Nguyễn Văn Ho. tự khai nhận và số tiền xâu 700.000 đồng của Nguyễn Bá Nhật H. thì số tiền thu dùng để đánh bạc thu trực tiếp trên chiếu bạc là 2.600.000 đồng.

Xác định số tiền dùng để đánh bạc theo lời khai hay số thu thực tế?

Liên quan đến hành vi đánh bạc, pháp luật hình sự quy định 03 tội danh: Tội đánh bạc, Tội tổ chức đánh bạc hoặc Tội gá bạc theo Điều 321 và Điều 322 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Theo đó, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc rất quan trọng, là căn cứ xem có truy cứu trách nhiệm hình sự và khung hình phạt phải chịu trách nhiệm.

Trong vụ án nêu trên, Toà án nhân dân tỉnh X đồng quan điểm với cơ quan điều tra về việc xác định số tiền các bị cáo đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc là 11.480.000 đồng, tức là việc xác định sẽ dựa theo lời khai mà các bị can khai nhận. Các bị can phải chịu trách nhiệm về tội “đánh bạc” đối với tổng số tiền được sử dụng để đánh bạc theo như lời khai.

Và với số tiền sử dụng đánh bạc được xác định theo lời khai của các bị cáo là 11.480.000 đồng, bị cáo Nguyễn Bá Nhật H. – người sử dụng nhà ở thuộc quyền quản lý của mình cho người khác đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc” (tổng số tiền dùng để đánh bạc có trị giá 5.000.000 đồng trở lên).

Tác giả không đồng ý với quan điểm với cơ quan điều tra và Toà án nhân dân về việc xác định số tiền sử dụng đánh bạc như trên vì một số cơ sở sau đây:

Hiện tại, chưa có văn bản nào hướng dẫn cách tính số tiền dùng để đánh bạc theo quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự, do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng cách tính số tiền dùng để đánh bạc theo tinh thần của Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249 BLHS 1999 (viết tắt là Nghị quyết số 01/2010).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định như sau:

“3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.”

Theo định nghĩa này, không có bất cứ từ ngữ nào nhắc tới “số tiền các bị can khai nhận mang đi đánh bạc” được xác định là tiền dùng để đánh bạc.

Đồng thời, việc sử dụng lời khai là chứng cứ duy nhất để xác định số tiền dùng để đánh bạc – là cơ sở để buộc tội, kết tội là vi phạm pháp luật về tố tụng hình sự.

Theo lý luận khoa học hình sự, chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, lời khai, lời trình bày của bị cáo là chứng cứ của vụ án. Tuy nhiên, lời khai nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội (Điều 98 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).

Trong vụ án này, lời khai về số tiền 11.480.000 đồng dùng để đánh bạc chưa được xác thực và cũng không phù hợp với vật chứng thu giữ được khi bắt quả tang, đó là số tiền 7.300.000 đồng. Trong số tiền 7.300.000 đồng này cũng có 4.000.000 đồng là tiền bị cáo Nguyễn Văn H tự giao nộp, khai nhận mang đi đánh bạc và 700.000 đồng là tiền xâu của bị cáo Nguyễn Bá Nhật H. Như vậy, cơ quan điều tra chỉ thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc số tiền 2.600.000 đồng, số tiền còn lại không được thu giữ tại chiếu bạc cũng không có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc. Do vậy cơ quan điều tra không thể xác định số tiền này là dùng để đánh bạc chỉ theo lời nhận tội của các bị cáo. Mặt khác, theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo thì việc xác định số tiền đánh bạc được ít hơn so với lời khai là có lợi cho các bị can, bị cáo.

Và nếu áp dụng quan điểm này của tác giả, bị cáo Nguyễn Bá Nhật H. mặc dù là người sử dụng nhà ở thuộc quyền quản lý của mình cho người khác đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc thấp hơn 5 triệu đồng sẽ không chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 BLHS.

Do đó, nếu xác định số tiền sử dụng đánh bạc chỉ dựa trên lời khai của các bị can, bị cáo mà ngoài lời khai của các bị cáo ra không có căn cứ chứng minh các bị cáo đã, sẽ dùng số tiền này để đánh bạc và không phù hợp với vật chứng thu giữ là vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật hình sự.

Pháp luật cần sớm có quy định cụ thể về tội phạm liên quan đến đánh bạc nói chung và việc xác định số tiền đánh bạc cụ thể nói riêng theo tinh thần của Luật mới để tránh có những bản án oan sai, không đúng tội.

Vụ án đang được kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Chúng ta cùng chờ đợi quan điểm của Toà phúc thẩm về vấn đề này.

Luật sư Duyên Trần – Công ty Luật FDVN

…………………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online