Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / THỰC TIỄN XÉT XỬ: TRANH CHẤP YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN VÔ HIỆU ĐƯỢC TÒA ÁN GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?

THỰC TIỄN XÉT XỬ: TRANH CHẤP YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN VÔ HIỆU ĐƯỢC TÒA ÁN GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?

BẢN ÁN SỐ 193/2019/DS-ST NGÀY 17-10-2019 YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN VÔ HIỆU CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 209/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2019   về “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tăng cho tài sản vô hiệu”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1005/2019/QĐ-PT ngày 26 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, địa chỉ: C5 khu phố 2, phường B1, thành phố B2, tỉnh Đồng
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H, cùng địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.

*          Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Hoàng Thị L; địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
  • Ông Nguyễn Văn C; địa chỉ: 25/3 Đường số 3, phường B, Quận  Y, thành phố Hồ Chí
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông C luật sư: Vũ Xuân H1 địa chỉ thành phố Đ, tỉnh Quản Bình (Giấy ủy quyền ngày 13/11/2018)
  • Bà Nguyễn Thị M, địa chỉ: Đội 1, thôn Đ1, xã L2, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
  • Bà Nguyễn Thị H2, địa chỉ: Tổ dân phố Th, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
  • Bà Nguyễn Thị H3, địa chỉ: 79 đường H4, Phường Y1, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  • Ông Lê Tiến S1 – Nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.
  • Ông Lê Văn P – Công chức Tư pháp Ủy ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình.

– Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

– Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Bố ông là Nguyễn Văn K (sinh năm 1929) và mẹ ông là Hoàng Thị L (sinh năm 1929) có 06 người con gồm: Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H3, Nguyền Thị M. Trong quá trình sinh sống, bố mẹ ông tạo lập được một khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói, 01 nhà ngang 01 trệt, 01 lầu gắn liền vói diện tích đất 446 m2 đã được Uỷ ban nhân dân huyện L1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số: B987888 ngày 06/10/1992, thửa đất số 617, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình mang tên bố (Nguyễn Văn K). Do bị bệnh hiếm nghèo nên bố ông đã chết ngày 16/6/2017, trước lúc chết bố không để lại di chúc.

Sau khi bố chết, vợ chồng ông Nguyễn Văn S bà Nguyễn Thị H là người quản lý, sử dụng di sản của bố ông để lại, ông S, bà H lấy lý do đã được bố, mẹ tặng cho quyền sử dụng  nên đã nhiều lần gây khó khăn, trở ngại cho mẹ ông cũng như các anh, chị, em của ông trong việc thắp hương, cúng giỗ bố cũng như tổ tiên, ông bà, thậm chí còn gây sự, xua đuổi mẹ và các anh, chị, em ra khỏi nhà.

Khi sự việc xảy ra thì ông có hỏi mẹ (bà Hoàng Thị L) và mẹ cho biết là bố, mẹ chưa hề tặng cho ai đất cả. Tuy nhiên mẹ ông kể rằng, có một lần vợ chồng ông S, bà H có mang về một tờ giấy và bảo mẹ ký vào tờ giấy đó  đề nghị Nhà nước cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên bố, mẹ vì thẻ đỏ hiện tại cấp quá lâu nên đã bị cũ, nát. Do tuổi cao, mắt kém và tin tưởng vào con nên khi ông S đưa tờ giấy thì mẹ ông không đọc và đã ký vào một tờ giấy duy nhất. Về bố (ông Nguyễn Văn K), sau một thời gian lâm bệnh nặng được điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện L1, bố ông bị hôn mê sâu nên đã được Bệnh viện huyện L1 chuyển gấp vào Bệnh viện TW Huế ngày 10/3/2017, đến ngày 16/6/2017 thì bố ông qua đời. Do đó, bố ông không thể có mặt trước Chủ tịch UBND thị trấn K1 để ký vào  quyền sử dụng đất. Lời chứng của ông Lê Tiến S1 – Chủ tịch UBND thị trấn K1 vào Hợp đồng tặng cho: “Tại thời điểm chứng thực, các bên tham gia    giao dịch minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; tự nguyện thỏa thuận giao kết Hợp đồng và đã ký/điểm chỉ vào Hợp đồng này trước mặt tôi” là hoàn toàn không đúng sự thật. Vì vậy, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình:

+ Tuyên   quyền sử dụng đất ngày 10/3/2017 giữa ông Nguyễn Văn K, bà Hoàng Thị L với ông Nguvễn Văn S, bà Nguyễn Thị H là vô hiệu vì trái pháp ỉuật.

+ Tuyên hủy phần ghi nhận vào ngày 22/3/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai huyện L1 ở trang “Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận” của GNCQSDĐ do UBND huyện L1 cấp cho ông Nguyễn Văn K ngày 06/10/1992, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: 11085/QSDĐ/156QĐ/UB-LT, thửa đất số 617, tờ bản đồ số ó ở địa chỉ Tổ dân phố 8, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng Bình biến động sang cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H bằng  quyền sử dụng đất trái pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, do biết được Uỷ ban nhân dân huyện L1 đã cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên ông S, bà H nên ngày 01/4/2019, ông Nguyễn Văn B có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khỏi kiện với nội dung: yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CI 966100, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 51, diện tích 502 m2, địa chỉ: tổ dân phố Th, thị trấn K1, huyện L1, tỉnh Quảng B nh do Ủy ban nhân dân huyện L1 cấp cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H.

– Tại bản trình bày ý kiến ngày 03/01/2019 và tại phiên hoà giải ngày 18/01/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Vợ chồng ông sống chung trong nhà với bố, mẹ (ông K, bà L). Các anh, chị, em của ông đã trưởng thành và lập gia đình ở riêng, nên bố, mẹ ông đã tặng cho vợ chồng ông thửa đất là tài sản riêng của bố, mẹ. Việc tặng cho tài sản được lập thành văn bản   quyền sử dụng đất) ngày 10/3/2017, có đầy đủ chữ ký của bố, mẹ; tại thời điểm lập   tài sản thì cả bố và mẹ đều khoẻ mạnh, tỉnh táo; có chứng thực của chính quyền địa phương, nên đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • Bà Nguyễn Thị H cũng có ý kiến đồng quan điểm với ông Nguyễn Văn S, đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa nguyên đơn.
  • Ông Nguyễn Văn C thống nhất ý kiến như nguyên đơn (ông B) đã trình bày, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đom.

– Bà Hoàng Thị L trình bày: Vợ chồng bà có 06 người cơn (đúng như nguyên đơn đã trình bày). Trong quá trình chung sống vợ, chồng bà đã tạo lập được khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói và một nhà ngang một trệt, một lầu được xây dựng trên thửa đất đã được Uỷ ban nhân dân huyện L1 cấp GCNQSDĐ số: B987888 ngày 06/10/1992, thửa số 617, tờ bản đồ số 6, diện tích 446 m2, tại Tổ dân phố 8 thị trấn K1, huyện L1, mang tên chồng là ông Nguyễn Văn K. Sau khi chồng bà (ông K) qua đời thì vợ chồng con trai là Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị H lấy lý do bố, mẹ đã cho đất nên gây khó khăn trong việc hương khói cho chồng và tổ tiên, ông bà; thậm chí còn gây sự, xua đuổi bà ra khỏi nhà (hiện tại bà L đang đến sống với gia đình ông B). Bà L cho rằng bà chưa hề có ý thức cho con trai (ông S) đất, bà nhớ rằng ông S có bảo bà ký vào một tờ giấy để cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên chồng bà vì GCNQSDĐ cũ đã lâu, cũ nát. Vì cả tin nên bà L đã ký vào một tờ giấy duy nhất mà không biết đó là âm mưu để vợ, chồng ông S, bà H chiếm đoạt tài sản của vợ chồng bà. Ngày 10/3/2017, sau một thời gian điều trị thì chồng bà (ông K) đã lâm vào tình trạng bệnh xấu nên Bệnh viện huyện L1 phải chuyển ông K vào Bệnh viện Trung ương Huế, nên không thể có mặt để ký   tài sản tại Uỷ ban nhân dân thị trấn K1 được. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn  bảo vệ quyền lợi cho bà.

– Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H2 có cùng ý kiến đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

– Ông Lê Văn P trình bày: Vào ngày 10/3/2017, ông Nguyễn Văn S đến UBND thị trấn K1 nhờ ông đến nhà chứng kiến việc ký  hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn K, bà Hoàng Thị L vói ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H do ông K tuổi cao nên đi lại khó khăn. Khi đến thì Hợp đồng đã được soạn sẵn, ông kiểm tra thì thấy Hợp đồng đúng với các quy định của pháp luật Sau đó ông chứng kiến việc ông K, bà L, ông S, bà H cùng ký vào hợp đồng tặng cho                               . Tại thời điểm ký, ông K, bà L, ông S, bà H đều minh mẫn, đều nhận thức được việc ký kết hợp đồng, không ai bị ép buộc, đe doạ. Việc ký hợp đồng tặng cho được thực hiện vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017. Sauk hi các bên cùng ký vào hợp đồng tặng cho thì ông đưa hợp đồng mà các bên đã ký về trụ sở UBND thị trấn K1 để trình chủ tịch UBND thị trấn là ông Lê Tiến S1 ký chứng thực. Quá trình thực hiện công việc trên đều đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Sau khi Chủ tịch UBND thị trấn ký chứng thực thì ông mang hợp đồng đến giao lại cho ông Nguyễn Văn S để ông Nguyễn Văn S làm biến động đất đai.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:

Căn cứ các Điều 147, 227 Bộ luật    tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 122, 127, 129, 131, 132, 457 và Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản

2 Điều 10, khoản 3, 4 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ   gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực , giao dịch; m đ khoản 1 Điều  12,  khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản  và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu u khởi kiện của nguyên đơn.

Tuyên bố  quyền sử dụng đất lập ngày 10/3/2017 giữa bên tặng cho: Ông Nguyễn Văn K và bà Hoàng Thị L với bên được tặng cho: Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H vô hiệu.

Bà Hoàng Thị L có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân huyện L1, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L1 căn cứ vào bản án, quyết định của Toà án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng theo đúng quy định của Luật đất đai.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/6/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung  đề nghị công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được các bên xác lập ngày 10/3/2017 là hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

 Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại đà nẵng phát biểu:

Hợp đồng tặng cho được ký tại nhà riêng của ông S sau đó ông P mang hợ đồng đến UBND thị trấn K1 để ký chứng thực, việc chứng thực như vậy là vi phạm khoản 3 Điều 36 Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015       cấp bản sao từ  gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng

thực chữ ký và  chứng thực Hợp đồng giao dịch, hợp đồng tặng cho không ghi giờ, phút ký chứng thực, theo ông P, hợp đồng tặng cho được ký lúc 15h 15 phú ngày 10/03/2017; Theo xác minh tại bệnh viện, ông K nhập viện lúc 10 giờ 10 phút ngày 10/03/2017 nên không thể ký hợp đồng lúc 15 giờ 15 phút ngày 10/03/2017. Như vậy thủ tục ký chứng thực hợp đồng tặng cho không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị bác khác cáo của ông S, bà Hồng; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo trình bày của ông Lê Văn P, việc ký kết hợp đồng được thực hiện ngay tại nhà ông Nguyễn Văn S sau khi các bên (bên tặng cho và bên được tặng cho) ký tên vào  thì ông P tự đưa đến trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn K1, huyện L1 để ông Lê Tiến S1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị n K1 ký chứng thực. Thủ tục chứng thực như trên là trái với quy định của Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015  cấp bản sao từ tổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây viết tắt là Nghị định số 23). Khoản 3 Điều  36 Nghị định  23 quy định:  “Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải ký trước mặt người thực hiện chúng thực”.

 

  1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất gồm 03 trang, nhưng không đánh s trang, trong hợp đồng chỉ có chữ ký của người tặng cho, người được tặng cho ở trang cuối (trang 3), còn người thực hiện chứng thực không hề có chữ ký ở cả ba trang của hợp đồng. Thủ tục chứng thực như trên là trái với quy định tại khoản 4 Điều 36 Nghị định số 23: đối vớí hợp đồng, giao dịch có từ hai trang   trở lên, thì từng trang phải được đánh  số thứ  tự, có  chữ  ký  của  người  yêu  cầu chứng thực và người chứng thực;…”.

 

  1. Về thời gian ký kết hợp ng: Theo lời trình bày của ông P thì việc ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được thực hiện tại nhà riêng của ông S vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017, tại thời điểm ký  kết hợp đồng các bên đều minh mẫn, nhận thức được việc ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, theo kết quả xác  minh  tại  Bệnh viện  Đa  khoa  huyện  L1,  tỉnh Quảng Bình    thể hiện ông Nguyễn Văn K đã nhập viện từ 10 giờ 10 phút ngày 10/3/2017; sau khi được khám bệnh ông K được chẩn đoán bị “K vòm họng” nên Bệnh viện Đa khoa huyện L1 đã chỉ định chuyển ông K vào Bệnh viện Trung ương Huế để điều trị trong ngày 10/3/2017. Do đó, tại thời điểm 15 giờ 15 phút ngày 10/3/2017 ông K không còn có mặt tại nhà riêng để tham gia ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng  như lời trình bày của ông

………………………….

Xem chi tiết bản án: : 193/2019/DS-PT Ngày: 17-10-2019V/v: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho tài sản vô hiệu”

 

………………………………………………………………………………………

Luật sư tại Đà Nẵng: 

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Phú Quốc:

65 Hùng Vương, thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc

Luật sư tại Quảng Ngãi

359 Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Website: www.fdvn.vn    www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online